Điều trị suy tĩnh mạch chi dưới bằng phương pháp laser nội tĩnh mạch

Hồ Khánh Đức, Nguyễn Văn Việt Thành, Phan Thanh Hải

TÓM TẮT

Mở đầu: Laser nội tĩnh mạch (TM) là phương pháp điều trị bệnh suy tĩnh mạch nông chi dưới mới, ít xâm lấn và tỉ lệ tái phát thấp. Từ 4/2008 Trung Tâm Y Khoa MEDIC TPHCM là đơn vị đầu tiên trong cả nước thực hiện phương pháp này. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá kết quả điều trị qua 80 bệnh nhân (Bn).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả. Laser nội TM được chỉ định cho những Bn bị suy TM nông nguyên phát, siêu âm Doppler cho thấy đường kính TM hiển bé ≥ 4mm hoặc TM hiển lớn ≥6mm với dòng trào ngược. Siêu âm được kiểm tra sau 1 tháng và 3 tháng và 1 năm để đánh giá kết quả.

Kết quả: Từ 4/2008-8/2009, 80 Bn (22 nam và 58 nữ) với 95 chân đã được điều trị bằng laser nội TM cót heo dõi 3 tháng và 1 năm. Tuổi trung bình là 53 (28-80). Phân độ TM giãn bằng bảng CEAP. 85 chân chưa có biến chứng (C2-C3, 89,5%), 8 chân có chàm hóa da (C4, 8,5%), 2 chân có loét chân (C5- 2%) . 89 TM hiển lớn (93,5%), 6 TM hiển bé (6,5%). Không có huyết khối TM sâu. Laser diode bước sóng 810nm được sử dụng vớimáy MedArt-Diomed. Năng lượng sử dụng là 10W phát tia liên tục, chỉ gây tê tại chỗ. Thời gian thực hiện trung bình là 30 phút. Sau thủ thuật bệnh nhân không đau, vận động ngay, không có sẹo và xuất viện sau 1 giờ. 100% TM hiển bị tắc hoàn toàn, không dòng trào ngược qua kiểm tra siêu âm sau 1 tháng – 3 tháng và 1 năm. >90% cải thiện triệu chứng lâm sàng. Không ghi nhận biến chứng như phỏng da, tắc TM sâu, nhiễm trùng.

Kết luận: Laser nội TM có hiệu quả trong điều trị suy TM nông chi dưới, lợi điểm là điều trị ngoại trú, thờigian hồi phục nhanh, thẫm mỹ và tránh được nguy cơ phẫu thuật.

Từ khóa : Laser nội tĩnh mạch

ABSTRACT

VARICOSE VEIN TREATMENT WITH ENDOVENOUS LASER THERAPY USING AN 810NM DIODE LASER

Hồ Khánh Đức, Nguyễn Văn Việt Thành, Phan Thanh Hải

Introduction: Ablation of varicose veins by endovenous laser therapy (EVLT) is a newer procedure that isless invasive than surgery and has a lower complication rate. MEDIC Center is the first institution in Vietnamwhere this procedure is performed. In this paper, we describe early results obtained from 80 patients treated by EVLT

Methods: In a descriptive study, EVLT was offered to patients where preliminary ultrasound scanning showed saphenous reflux with a straight section of diameter greater than 6 mm for large saphenous vein and 4mm for small saphenous vein. Ultrasound surveillance was repeated at 1 – 3 months and 1 year to confirm thatthe treated vein has been occluded.

Results: From 4/2008 to 8/2009, 80 cases of EVLT (95 limbs) were done with a 1 month, 3 month and 1 yearfollow-up at our center in 22 male and 58 female patients. Mean age was 53 years (range: 28 to 80 years). The CEAP classification was used to assess the limbs. There were 85 limbs with uncomplicated varicose veins (C2–3,89.5%), 8 limbs with lipodermatosclerosis (C4, 8.5%) and 2 limbs with skin ulceration (C6, 2%). 89 GSV and 6SSV. Primary disease was present in all limbs, and none had features of the post-thrombotic syndrome. EVLT wasperformed using the MedArt 810 nm diode laser system. Settings were selected to deliver 10W of power at acontinuous rate. The mean operating time was 30 minutes. The postoperative course was significantly less painfuland all patients were satisfied with the cosmetic results. The patients could walk and go home at 1 hour afterprocedure. There was no complication. Vein closure occurred in 100% at 1, 3 months and 1 year by ultrasoundsurveillance. >90% patients had improvement in their symptoms after treatment.

Conclusion: Saphenous reflux was effectively controlled by EVLT as an outpatient procedure under localanaesthesia with a lot of advantages for patients: immediate mobilisation, minimal disruption of activities,satisfactory functional and cosmetic results and avoidance of surgical trauma.

Keywords: endovenous laser treatment

MỞ ĐẦU

Bệnh suy tĩnh mạch nông chi dưới ngày càng gặp nhiều ở nước ta. Phương pháp điều trị cổ điển từ trước tới nay là phẫu thuật cột quai TM hiển, lột thân TM và lột các nhánh. Đây là phương pháp điều trị xâm lấn, nặng nề,thời gian hồi phục lâu và có thể có các biến chứng do gây mê, phẫu thuật. Laser nội TM là phương pháp điều trị mới, ít xâm lấn, thời gian hồi phục nhanh, đã được áp dụng từ năm 2000 tại Mỹ và các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, Bv Bình Dân và Trung Tâm Y Khoa MEDIC TPHCM đã phối hợp thực hiện TH đầu tiên từ 4/2008. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả điều trị qua 80 bệnh nhân điều trị laser nội TM.

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu: mô tả 80 TH từ 4/2008 đến 8/2009.

Đối tượng: Laser nội TM được chỉ định cho các bệnh nhân (Bn) bị suy TM nông chi dưới có triệu chứng từ mức độ C2 (phân loại CEAP), siêu âm Doppler màu cho thấy đường kính cắt ngang TM hiển lớn ≥ 6 mm và TM hiển bé ≥ 4mm , có dòng trào ngược, không có huyết khối TM sâu. Bn được thực hiện laser nội TM tại phòng can thiệp mạch máu Trung Tâm MEDIC và xuất viện sau 1 giờ. Bn được tái khám sau 1 – 3 tháng và 1 năm để kiểm tra đánh giá:

Lâm sàng: giảm các triệu chứng, tìm các biếnchứng như phỏng da, huyết khối TM sâu

Siêu âm: TM hiển bị tắc hoàn toàn, không còndòng trào ngược, huyết khối TM sâu

Kỹ thuật làm laser nội TM

Trước thủ thuật, Bn được siêu âm Doppler kiểm tra và vẽ đường đi của TM hiển, vị trí củaquai TM hiển, đánh dấu điểm cách quai 2cmvà điểm luồn dây laser (thường là trên và dướigối vài cm). Chuẩn bị như một cuộc phẫu thuật, sát trùng toàn bộ chiều dài chân bằng betadine, trải khăn vô trùng, bác sĩ bận áo và mang găng vô trùng. Dụng cụ: hệ thống máy laser diode MedArt 810nm; kim chụp mạch máu 18G, dây dẫn (Guide-wire) 0.035, ống dẫn (Sheath) 5F ; dung dịch Lidocaine 0,25% (80-120ml). Dùng lidocain 2% để gây tê tại chỗ sẽ chọc kim. Có thể chọc kim vào TM hiển qua siêu âm định vị hoặc bộc lộ TM hiển bằng đường rạch da nhỏ 3mm. Dùng phương pháp Seldinger để luồn dây dẫn (guide-wire) và ống dẫn (sheath) đến đúng vị trí đã đánh dấu (cách quai 2cm). Sợi dây laser được luồn vào trong lòng sheath, đầu dây ló ra khỏi sheath 1-2cmvà cố định bằng 1 khóa (Luer Lock). Kiểm tra dây laser trong lòng TM ở đúng vị trí bằng siêu âm và ánh sáng tia laser. Lưu ý, nếu mất ánh sáng tia laser ở dưới da thì có nghĩa là đầu dây đã ở sai vị trí. Tiêm dung dịch lidocain 0,25% xung quanh thân TM hiển qua siêu âm nhằm giảm đau, tách TM ra khỏi mô xung quanh để tránh làm phỏng mô và ép thân TM giúp tăng diện tiếp xúc của thành TM với tác động nhiệt từ laser. Năng lượng laser có hiệu quả là tối thiểu 40joules /1cm. Công thức tính năng lượng Energy (joules) = power (watt) x time (giây) (E=Pxt). Có 2 cách phóng tia laser là ngắt quãng và liên tục. Chúng tôi dùng năng lượng 10W, phát sóng liên tục. Dây laser được rút dần đều với tốc độ 3mm/s. Sau thủ thuật,Bn được quấn băng thun ép hoặc mang vớ TM trong vòng 5 ngày. Bn có thể xuất viện sau 1 đến 2 giờ.

KẾT QUẢ

Từ 4/2008-8/2009, 80 Bn với 95 chân đã được điều trị bằng laser nội TM và theo dõi 3 tháng. 20 Bn được theo dõi 1 năm.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

  • Số Bn 80 (95 chân)
  • Giới tính 58 nữ – 22 nam
  • Tuổi trung bình (TB) 53 (28-80)

Lâm sàng

  • Nặng chân, mỏi chân 95 chân (100%)
  • Giãn TM nông 93 chân (98%)
  • Phù chân 5 chân(5,2%)
  • Thay đổi màu sắc da, chàm hóa da 8 chân (8,4%)
  • Loét chân 2 chân(2,1%)
  • TM hiển lớn 89 (94%)
  • TM hiển bé 6 (6%)
  • Phân loại CEAP: C2 = 80 (84%), C3 = 5 (5,2%), C4 = 8 (8,4%), C6 = 2 (2,4%)

Siêu âm Doppler màu

  • Số TM hiển điều trị 95
  • Dòng trào ngược 95 (100%)
  • Đường kính TM hiển lớn ở quai 12mm (8-18mm)
  • Đường kính thân TM hiển lớn 10mm (6-16mm)
  • Huyết khối TM hiển lớn (đoạn dưới gối) 5 (5%)
  • Chiều dài đoạn thân TM hiển lớn thực hiện 32cm (10-40cm)
  • Đường kính TM hiển bé ở quai 6,5mm(6-8mm)
  • Đường kính thân TM hiển bé 5 mm (4-6mm)
  • Chiều dài đoạn thân TM hiển bé thực hiện8cm (5-10cm)

Kết quả lâm sàng sau thủ thuật 1 – 3 tháng

  • Số Bn 80
  • Số TM điều trị 95
  • Giảm triệu chứng 76/80 (95%)
  • TM nông xẹp hoàn toàn 80/95 (84,5%)
  • Tụ máu dưới da 0%
  • Phỏng da 0%
  • Vết tím ở da xung quanh TM 90/95 (95%)
  • Cảm giác căng đau ( >1 tuần) 24/80 (30%)

Kết quả siêu âm Doppler màu sau thủ thuật 1 – 3 tháng

  • Số Bn 80
  • TM hiển tắc hoàn toàn 95/95 (100%)
  • Không còn dòng trào ngược ở quai TM 95/95 (100%)
  • Huyết khối TM sâu 0%

Kết quả siêu âm Doppler màu sau thủ thuật 1 năm

  • Số Bn 20 (25%)
  • TM hiển bị tắc và teo nhỏ 20/20(100%)
  • Không còn dòng trào ngược 20/20 (100%)

BÀN LUẬN

Hiện tượng tăng áp lực trong lòng TM do trào ngược mà nguyên nhân của nó là suy van TM gây ra các triệu chứng như giãn TM nông, nặng chân, phù, thay đổi màu sắc da, chàm hóa da, loét da và chảy máu (3). Phương pháp (pp) điều trị kinh điển là phẫu thuật cột quai TM hiển và rút bỏ thân TM. Năm 1860, Friedrich von Trendelenbourg giới thiệu pp phẫu thuật là rạch da đường ngang phía trên đùi và cột bỏ TM hiển lớn (2). Sau đó, Charles Mayo thực hiện đường rạch da dài từ bẹn đến ngay trên gối để cắt bỏ TM hiển (4). Đầu thế kỷ 20, Mayo và Keller trình bày kỹ thuật lột bỏ TM hiển bằng cách sử dụng dây rút TM gọi là pp Stripping và được áp dụng rộng rãi từ 1950 cho đến ngày nay (4). Phẫu thuật cho kết quả tốt, tuy nhiên đòi hỏi phải tê tủy hoặc gây mê, hạn chế vận động của bệnh nhân, thời gian hồi phục để lao động lâu; có tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ, tỉ lệ đau và dị cảm sau mổ cao cũng như tỉ lệ tái phát các TM giãn cao (70% sau 10 năm) (3). Từ cuối thập niên 90, có các pp điều trị mới ít xâm lấn, ít đau, ít biến chứng và thời gian hồi phục nhanh. Đó là các pp can thiệp nội tĩnh mạch: tia laser, sóng cao tần (Radiofrequency), chích xơ (3). Các pp này hiệu quả, an toàn được áp dụng ngày càng nhiều trên thế giới. Về nguyên lý tác động: laser và sóng cao tần dùng năng lượng nhiệt tác động lên thành mạch làm xơ hóa thân TM, chích xơ dùng các chất tạo xơ trong lòng TM như Polidocanolhay sodium tetradecylsulfate (3). Cũng như stripping, các pp này có hiệu quả trong điều trị các đoạn TM như thân TM (TM hiển lớn và hiển bé), các TM nông giãn (varicose vein). Laser nội TM là pp điều trị có hiệu quả, chi phí rẻ hơn so với sóng cao tần. Năm 1999, Bone, người Tây Ban Nha, đã thực hiện ca laser đầu tiên(8). Năm 2000, Navarro và Min người Mỹ đã công bố đầu tiên pp này trên thế giới và Gerardáp dụng năm 2002 tại Pháp (8). Từ đó đến nay, pp này đã được thực hiện trên nhiều nước trên thế giới. Các bước sóng laser có thể thực hiện có hiệu quả là 810nm, 940nm, 980 nm, 1470nm (2). Trongđó bước sóng được sử dụng phổ biến là 810nm (2). Tại Việt Nam, 8/2007, các bác sĩ người Pháp đã thực hiện 5 trường hợp đầu tiên tại BV Bình Dân TPHCM với laser bước sóng 980nm. 4/2008 tại Trung Tâm MEDIC, chúng tôi đã thực hiện ca đầu tiên với máy laser MedArt bước sóng 810nm. Từ 4/2008 – 8 /2009 chúng tôi đã thực hiện và theo dõi được 80 Bn trong 3 tháng và 20 Bn sau một năm . Nguyên lý tác động là chuyển ánh sáng laser thành nhiệt tác động lên thành mạch và làm xơ hóa TM. Laser diode 810nm bị hấp thụ bởi Hb (3). Các báo cáo trên thế giới về hiệu quả của laser nội TM trong điều trị bệnh suy TM nông mạn tính trong nhiều khoảng thời gian khác nhau với các bước sóng khác nhau nhưng đều cho thấy tỉ lệ thành công khá cao. Min năm 2001 báo cáo 90 ca TM hiển lớn điều trị vớilaser 810nm tại Mỹ, tỉ lệ thành công sau 6 tháng là 96% và sau 2 năm là >90%(5). Navarro năm 2001 báo cáo 40 ca TM hiển lớn với laser 810nm tại Mỹ, tỉ lệ thành công trong 4 tháng là 100%(7). Tại Pháp năm 2002, Gerard theo dõi 20ca TM hiển lớn điều trị với laser 980nm trong vòng 1 tháng, tỉ lệ thành công là 100%(1). Sadick (năm 2004) theo dõi 30 ca TM hiển lớn điều trị bằng laser 810nm trong 24 tháng với tỉ lệ thành công là 97%(1). Thành công được đánh giá dựa trên lâm sàng là không có TM nông giãn tái phát, giảm triệu chứng và trên siêu âm Doppler không thấy dòng trào ngược, TM hiển bị tắc hoàn toàn. Chúng tôi theo dõi 80 trường hợp với 95 TM hiển (89 TM hiển lớn và 6 TMhiển bé) trong vòng 3 tháng, cho thấy 100% cókết quả tốt trên siêu âm, >90% giảm hẳn các triệu chứng lâm sàng, 85% các TM nông xẹp hoàn toàn sau laser 1 tháng , 15% còn các nhánh dãn được thực hiện bằng pp Muller (rút bỏ TM dãn bằng móc với đường rạch da nhỏ 3mm) sau đó 1 tháng và không tái phát TM nông dãn sau 3 tháng. 20 Bn được thựchiện siêu âm Doppler sau 1 năm thấy TM hiển bị tắc và teo nhỏ không còn thấy. Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy siêu âm sau 1 tháng sẽ thấy TM bị tắc hoàn toàn, không có phổ dòng chảy, sau 3 tháng thấy kích thướcTM nhỏ hơn so với trước, sau 1 năm TM teo nhỏ (2). Nhiều nghiên cứu trên thế giới so sánh hiệu quả giữa các pp nội TM và phẫu thuật đều cho thấy lợi điểm nổi bật của các pp nàyvề mặt thẩm mỹ, hồi phục nhanh, chi phí nằm viện ít và tỉ lệ tái phát ít hơn. Tỉ lệ tái phát của phẫu thuật stripping là 15-70% sau 5 – 10năm(3). Biến chứng xảy ra trong và sau thủ thuật là rất hiếm và thường là có thể chịu được và hết trong thời gian ngắn. Các biến chứng do phẫu thuật, do gây mê hoặc tê tủy sống không xảy ra nhờ thực hiện bằng gây tê tại chỗ. Trong quá trình thực hiện, Bn không có cảm giác đau nhờ được tiêm dung dịch thuốc tê xung quanh thân TM. Một số Bn có cảm giác khó chịu hoặc nóng và hết sau khi chấm dứt thủ thuật. Nhiều báo cáo trên thế giới cho thấy mức độ an toàn của pp laser nội tĩnh mạch. Min và Khilnani báo cáo 499 ca điều trị với laser 810nm ghinhận không có huyết khối TM sâu, không có phỏng da, dị cảm, 24% có vết thâm tím xung quanh thân TM được điều trị và biến mất trong vòng 1 tuần (5). Các báo cáo khác cho thấy tỉ lệ huyết khối TM sâu, phỏng và dị cảm sau thủ thuật là <1%(3). Kenneth Myers báo cáo 404 TM hiển được điều trị chỉ có 2 trường hợp cóhuyết khối không hoàn toàn TM khoeo được phát hiện qua siêu âm kiểm tra và tự khỏi sau 3 tuần; 1 trường hợp bị thuyên tắc phổi sau 3 ngày (2). Các tác giả cho rằng biến chứng chỉ xảy ra khi đầu dây laser ở sai vị trí (5) (ví dụ: đầu dây laser đi vào tĩnh mạch sâu). Chúng tôi không ghi nhận có trường hợp nào bị huyết khối TM sâu và phỏng da. >90% trường hợp có vết thâm tím lan ra xung quanh thân TM do hiện tượng xuất tiết máu từ trong lòng TM ra mô dưới da và mất hoàn toàn trong vòng 1 tháng. Không có trường hợp nhiễm trùng ở vị trí đâm kim. Sau thủ thuật Bn có thể vận động được ngay và có thể làm việc bình thường sau 1 ngày. Khoảng 30% trường hợp ghi nhận cảm giác căng đau ở đùi dọc theo TM điều trị khi đi trong vòng 1 tuần và đáp ứng tốt với thuốc giảm đau thông thường. Chúng tôi gặp một số khó khăn trong quá trình thực hiện thủ thuật. Có 2 trường hợp luồn dây laser rất khó khăn, trong đó 1 trường hợp đi vào nhánh ra da của TM hiển và 1 trường hợp đi vào nhánh xuyên (ánh sáng laser biến mất). Cả 2 trường hợp này sau đó đều điều chỉnh được dây laser vào đúng vị trí. 1 trường hợp đoạn thân TM hiển ở đùi quá ngoằn ngoèo, guide-wire không đi qua được, chúng tôi phải chia làm 2 đoạn và đâm kim 2 lần để để điều trị laser. Một số trường hợp, TM bị co thắt nhiều sau đâm kim vả không thể luồn guide-wire, chúng tôi phải dùng PP Muller để bộc lộ TM. 5 trường hợp huyết khối đoạn dưới cẳng chân của TM hiển lớn, chúng tôi thực hiện laser đoạn phía trên từ quai đến gần đoạn có huyết khối. Tất cả các trường hợp này sau thủ thuật đều có kết quả tốt. Tassiopoulos đã báo cáo kinh nghiệm thực hiện các trường hợp TM xoắn, huyết khối TM nông giống như chúng tôi tại hội nghị mạch máu Châu Âu Paris 2009 và cho kết quả rất tốt (9).

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 80 Bn với 95 TM hiển được điều trị, chúng tôi nhận thấy Laser nội TM điều trị suy TM nông chi dưới là pp điều trị ít xâm lấn, tỉ lệ thành công cao, ít biến chứng, không có các biến chứng của gây mê và phẫu thuật. Lợi điểm của pp này là có thể điều trị ngoại trú, tính thẫm mỹ cao, thời gian hồi phục nhanh, bn có thể vận động ngay sau thủ thuật. Phương pháp này có thể thay thế phẫu thuật cổ điển trong tương lai ở nước ta. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu trên thế giới và của chúng tôi còn giới hạn trong thời gian ngắn, cần theo dõi dài hạn hơn trong tương lai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gerard JL, Desgranges P, Becquemine J. Feasibilty ofendovenous laser fort the treatmentof greater saphemousvaricose veins : one month outcome in a series of 20outpatients. J Mal Vasc 2002; 27 : 222-5

2. Kenneth Myers, Robert Fris and Damien Jolley. Treatmentof varicose veins by endovenous laser therapy : assessment ofresults by ultrasound surveillance. MJA 2006; 185 (4) : 199-202

3. Mark H, Meissner, Pannier F. Primary chronic venousdisorders. J Vasc sur 2007; 46: 54s-65s.

4. Mayo CH. Varicose veins of the lower extremity. St. PaulMed J. 1900;2:595.

5. Min R,Zimmet S, Isaacs M, Forrestal M, Endovenous lasertreatment of the incompetent greater saphenous vein. JVasc Interv Radiol 2001; vol 12 : 1167-71

6. Myers TT. Results and technique of stripping operation forvaricose veins. JAMA. 1957;163(2):87–92

7. Navarro L, Min R, Bone C. Endovenous laser : anewminimally invasive method of treatment for varicose veins–preliminary observation using an 810 nm diode laser.Dermatol Surg 2001; 27 : 117-22

8. Pannier F, Rabe E, Mid-term results following endovenouslaser ablation of saphenous veins with a 980 nm diodelaser. International Angiology-vol 27-12/2008, p 475-481

9. Tassiopoulos A.K, Gasparis A.P, Labropoulos N. Are thereany veins which should be excluded from endovenousablation ?. Controversies and updates in vascular surgeryParis 2009, 447-9.

About bacsivietthanh

Ủy viên Ban chấp hành Hội Phẫu Thuật Lồng Ngực Tim Mạch Tp HCM nhiệm kì 2013 - 2018 Hội viên Hội Tĩnh Mạch Tp HCM Giảng viên Ngoại Khoa trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch - Thành phố Hồ Chí Minh Giảng viên Ngoại Khoa trường Đại học Quốc Tế Hồng Bàng - Thành phố Hồ Chí Minh Bác sỹ phẫu thuật Bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh Bác sỹ phẫu thuật Bệnh viện Quốc Tế Minh Anh
This entry was posted in Mạch máu, Nghiên cứu khoa học. Bookmark the permalink.