Tuyến giáp: chức năng sinh lý

SINH LÝ TUYẾN GIÁP:

Tuyến giáp thì đáp ứng sản xuất hai vòng hocmon chuyển hóa chính đó là T4, T3 và cancitonim, nang giáp thì đóng vai trò rất quan trọng, nang giáp được trong việc sản xuất hocmôn tuyến giáp, nang giáp được tạo ra từ một lớp trơn tế bào nang hình khối ở cái bao quanh một nơi cất giữ trung tâm được làm đầy bởi một chất protein keo, nơi mà một phần là chất dự trữ mỗi nang được bao bọc bởi giàu những  mao mạch liên kết đan vào nhau bởi nhiều đơn vị nang bao gồm những khối tuyến giáp bình thường, nang giáp là một đơn vị sản xuất chính cũng như là một nơi dự trữ  hocmôn tuyến giáp.

Những tế bào phân chia từ màu thần kinh được gọi là tế bào C, di chuyển vào trong tuyến giáp ở thời kỳ phát triển phôi. Những tế bào này đến đỉnh cư trú ở vị trí cạnh nang phía trên mỗi thùy tuyến giáp. Những tế bào C có phản ứng sản xuất hocmôn calcitonim với cái thuộc tính quan trọng điều hòa chuyển hóa calcium.

1/ Chuyển hóa iod :

Iod có thể được hấp thu chính từ đường tiêu hóa dưới dạng vô cơ và ngay lập tức chuyển vào hồ dự trữ  iod ngoại bào. Tuyến giáp dự trữ  90% iod của toàn bộ cơ thể và chúng phóng tích dưới 10% tồn tại từ hồ ngoại bào. Cái hồ ngoại bào chứa những iod được hấp thu nguyên chất với toàn bộ sự chia ưu tiên từ sự bẻ gãy hocmôn tuyến giáp. Trong tuyến giáp iod được dự trữ không những dưới dạng hocmôn tuyến giáp mà còn dưới dạng aminoaxit gắn kết iod. Iod được tổng hợp bên trong tế bào nang bởi một quá trình vận chuyển tích cực từ hồ ngoại bào. Iod có thể bị mất đi từ ngoại bào thông qua bài tiết của thận và thông qua da, Saliva và đường hô hấp, vận chuyển iod vào trong tế bào nang được điều hòa bởi sự kích thích hormon TSH với những nang có chứa iod. Sự vận chuyển tích cực iod vào trong tế bào nang là kết quả của dấu hiệu vận chuyển thẩm thấu tế bào. Mặt dù quá trình vận chuyển iod vẫn chưa hiểu hết hoàn tòan, nó xuất hiện được liên kết với hệ thống sodium potasium adenosin triphotphatase. Cái mối quan hệ  giữa iod ăn vào và bệnh lý tuyến giáp được biết hơn 100 năm nay trong thế kỷ XX, việc thực hành và bổ sung iod vào thức ăn và nước đã đạt được kết quả nghiên cứu thận trọng ở nhiều vùng nơi mà thiếu hụt iod đã được chứng minh và có liên hệ với bệnh lý tuyến giáp của địa phương. Dấu hiệu thiếu hụt iod vẫn xuất hiện ở những nơi kém phát triển của thế giới. Thiếu iod có thể dẫn đến trong nhân giáp, suy giáp và Cretinsm, và có thể sự phát triển của ung thư tuyến giáp. Tổ chức y tế thế giới đã khuyến cáo với những người sử dụng thức ăn có bổ sung iod thì đến toàn bộ cộng đồng được điều trị ở những vùng không phát triển của thế giới. Ở những vị trí iod bình thường mà bệnh lý tiến triển như là bệnh graves  và viêm giáp Hashimoto.

2/ Tổng hợp hocmôn tuyến giáp :

Vào bên trong tế bào nang, iod vô cơ bị oxy hóa và tổng hợp với một nửa Tyrosin trở thành iodotirosin với dạng là MIT hoặc dưới dạng là DIT. Những hình thức này bao gồm một cái nang và một cái protein Thyroglobulin dự trữ. Với dạng MIT và DIT thì phụ thuộc nhiều vào những chất xúc tác nội bào, tuyến giáp như là men Peroxi men mà có đặc tính tham gia đầy đủ ở quá trình ban đầu nơi dự trữ  iod. Những men này nó hoạt động ở tại chổ tăng lên ở trong tế bào nang nơi mà phản ứng bề mặt trong của tế bào keo MIT và DIT bị trơ sinh học, cả hai chất rắn được tăng lên hocmôn tuyến giáp hoạt động. T4 được hình thức gấp đôi phân tử DIT. T3 là sự kết hợp của phân tử MIT và DIT trong chu trình bình thường thì dạng T4 là con đường chủ yếu cả. T3 và T4 đều gắn với Thyroglobulin và dự trữ ở trong chất keo ở một đơn vị trung tâm nang. Ngay lập tức và sự chuyển hóa quá trình hoạt hóa kết quả là dự trữ khoảng hai tuần hocmôn tuyến giáp xấu trong chương trình dưới mức bình thường. Sự phóng thích T3 &T4 được điều hòa ở đỉnh màng tế bào nang, kết quả là Lysosomhydrolys của chất keo chứa đựng hocmôn Thyroglobulin tăng lên. Đỉnh màng tế bào tuyến giáp dưới dạng nhiều dấu giữa và Thyroglobulin trong những túi nhỏ nơi mà có thể mang hết những bộ máy tế bào trong những túi, Lysosomhydrolys kết quả tái tạo của cấu nối lưu huỳnh cả T3 & T4 thường thì tự do xuyên qua cái màng cơ bản và chuyển hóa vào bên trong tuần hoàn. Quá trình trao đổi này thì ảnh hưởng đến sự tăng lên T3 & T4 trong khi duy trì thành phần dự trữ của Thyroglobulin và chất keo ở trong cấu trúc nang. Mặt dù sự phân tích nhạy cảm của máu ngoại biên có thể có giá trị đối với Thyroglobulin,  Thyroglobulin ngoại biên mô tả một phần gãy nhỏ cực kỳ trong toàn bộ cơ thể. Iodo Tyrosin còn dư bị bẽ gãy ở ngoại biên, đề iod và tái sinh và có thể tái sinh thêm vào cái iod dự trữ  được hấp thu và trở thành có giá trị trong quá trình tổng hợp hocmôn tuyến giáp mới.

3/ Điều hòa sự bài tiết hocmôn tuyến giáp T3 & Thyroxin :

Trục hạ đồi tuyến yên điều hòa sự sản xuất hocmôn tuyến giáp và tăng lên trong hệ điều hòa nội tiết nghịch cổ điển, hoạt động điều hòa tuyến giáp chính là một Glycoprotein TSH. TSH là một yếu tố tăng trưởng chính trong tuyến giáp TSH kích thích tế bào tăng trưởng và biệt hóa như là hấp thu  iod và tổ chức và phóng thích T3 và T4 từ  Thyroglobulin. Thêm vào đó TSH biểu hiện kích thích tăng trưởng và thuộc tính xâm lấn của tế bào ung thư  tuyến giáp trong thực nghiệm. Những số liệu nuôi cấy tế bào này chứng minh TSH có thể ức chế những dòng tế bào tuyến giáp người. Phần lớn những dòng tế bào tuyến giáp người thì không  độc lập khỏi TSH để tăng trưởng. TSH xuất hiện trong những dòng tế bào này phát triển chậm khi mà ức chế gen thụ thể TSH. Vòng ức chế ngược thì rất quan trọng trong điều hòa sự  tiết TSH, TSH được phóng thích từ sau tuyến yên và đáp ứng với sự tăng của mức hocmôn TRH và sự giảm của T3, TRH  hoạt động trực tiếp trên những tế bào phía sau tuyến yên, dẫn đến sản xuất và phóng thích TSH. TRH được tạo nên từ nhân Paraventricular của vùng hạ đồi gồm một chuỗi Peptid 3aa và phóng thích ra hệ thống cửa vùng dưới đồi đến tuyến yên. Mức hocmôn tuyến giáp ngoại biên có thể kích thích phóng thích TSH và tuyến yên làm tăng tuyến TRH. Ức chế âm tính làm tăng mức T3 & T4 của ngoại biên có thể ảnh hưởng đến sự tiết TSH. T4 ngoại biên bị khử  iod trong tuyến yên và trở thành T3, khi sự ức chế phóng thích trực tiếp và tổng hợp TSH. T3 là kết quả của một quá trình làm tăng số luợng cụ thể TSH trên bề mặt của tế bào tuyến yên, tuy nhiên đáp ứng lại sự tăng khu trú TRH. Những chất chuyển hóa khác xuất hiện có thể ảnh hưởng đến sự tổng hợp bài tiết hocmôn tuyến giáp. Catecholamine, đặc biệt Epinephrine có thể kích thích trực tiếp phóng thích và sản xuất tuyến giáp. Human Chorionic Gonadotropin kích thích sản xuất hocmôn tuyến giáp và kết quả tăng tổng hợp suốt thời kỳ bào thai. Trong ung thư gồm có bệnh thai trứng kết quả làm tăng Human có thể làm tăng hocmôn tuyến giáp. Glucocorticoid thông qua ức chế bài tiết TSH. Những người bị đói thiếu ăn hoặc bị bệnh làm giảm mức T3 & T4 thì với hoặc là không với sự bù tăng lên TSH cơ chế điều hòa tự động bên trong là một cách khác có thể kiểm soát nguồn dự trữ  hocmôn bên trong tuyến giáp. Trong những vùng này nơi mà Iod thường dư thừa, tuyến giáp tự động quá trình điều hòa ức chế hấp thu Iod vào bên trong tế bào nang, ngược lại với Iod thực sự thiếu. Thừa Iod có thể gây kích thích và tạo ảnh hưởng đến một phức hợp gồm sự tăng trong tổ chức ức chế ảnh hưởng như là hội chứng Wolff-Chaikoff effect.

4/ Thyroglobulin :

Thyroglobulin là một Glycoprotein có trọng luợng là 660 ngàn Dalton và là một phức hợp đầu tiên có trong chất keo ở trong nang, Thyroglobulin làm cho dễ dàng sự chuyển MIT và DIT trong T3 & T4. Quá trình này đi kèm với Thyroglobulin thoát khỏi vòng máu ngoại biên, nơi mà chúng có thể nhận diện. TSH tăng trong khi quá trình phân chia nội bào và ly giải Protein và hệ thống men Adenylate Cyclase tăng quá mức ở máu ngoại biên của Iod đã cản trở sự tăng bắng cách kháng lại sự tăng của Thyroglobulin qua sự ly giải Protein. Thyroglobulin ngoại biên có thể giới hạn mức độ đo lường sự lành tính và ác tính của tuyến giáp tăng sinh. Thyroglobulin ngoại biên có giá trị tiên đoán sự tái phát của ung thư tuyến giáp biệt hóa tốt, không những tại chổ mà còn di căn sau khi tuyến giáp đã được cắt toàn bộ.

5/ Calcitonim :

Calcitonim là một Polypeptit 32 aa và được bài tiết bởi tế bào C ở tuyến cận giáp trong mỗi thùy tuyến giáp Calcitonim hoạt động chính yếu ngăn cản sự hấp thu Calcium bởi hủy cốt bào với mức Calcium hấp trong huyết thanh, sự tăng Calcium trong huyết thanh kích thích bài tiết Calcitonim. Bài tiết Calcitonim kích thích lâm sàng của Calcium, Pentagastrin và cồn. Hoạt động đặc biệt của Calcitonim trên thụ thể bề mặt của hủy cốt bào. Thụ thể Calcitonim cũng có thể được phát hiện trên tế bào biểu mô ở thận và tế  bào Lymphô. Calcitonim hoạt động trực tiếp trên hủy cốt bào nơi mà có hoặc không có kết quả của mức Calcium tăng được đánh dấu. Thực tế bệnh nhân trên lâm sàng có hội chứng thừa Calcitonim như là ung thư tủy của tuyến giáp có thể biến đổi chuyển hóa Calcium ngoại biên. Cơ bản hoặc mức Calcitonim được kích thích thì rất nhạy cảm với nguyên phát hoặc tái phát của MCT. Calcitonim có thể đo một cách thường uy trong tất cả những khối u tuyến giáp để làm giảm sự phát hiện không thường xuyên của ung thư tủy thì không được phổ biến.

6/ Hoạt động của hôcmôn tuyến giáp ngoại biên:

Ở ngoại biên T4 thì bị bất hoạt hơn so với T3, T4 có mối quan hệ thấp với thụ thể nhân hocmôn tuyến giáp ngoại biên so với T3, bởi vì T4 bị biến đổi sang dạnghoạt động thành T3, hầu hết phóng thích hocmôn tuyến giáp được sử dụng. Kết quả là hoạt động của hocmôn giáp ở ngoại biên thì T3 cực kỳ quan trọng với nhân TR. Sau kế đó là sự ràng buột vủa vùng điều hòa trong nhiều quá trình điều hòa gen. TRS phụ thuộc vào gia đình thụ thể hocmôn Steroid. hai gen điều hòa hoạt động và sản xuất TR là Alpha và Beta nơi nhiễm sắc thể số 17 và 3, các thụ thể điều chỉnh sự biểu hiện trong mô của chúng. Dạng Beta của TR có ở trong gan, thần kinh trung ương là dạng Alpha. Sụ­ biểu hiện của TR có thể bị điều hòa bởi sự tập trung của tuyến giáp hocmôn tuyến giáp thấp thì kết quả TR tăng đáp ứng bù. TR đáp ứng trực tiếp của biểu hiện lâm sàng hoạt động hocmôn, kết quả hoạt động lâm sàng của hocmôn giáp được điều hòa thông qua TR và có ảnh hưởng đến nhiều gen khác nhau, sự biểu hiện điều hòa này xảy ra trong nhân kết quả là sản xuất Polypeptit ví dụ như  T3 hoạt động trong tuyến yên bởi phiên bản điều hòa của các gen Alpha & Beta của TSH trong sự bài tiết TSH, T3 ảnh hưởng đến họat động co cơ tim bởi phiên bản điều hòa của Myosin heavy chain production trong cơ tim. Trong T3, T4 ngoại biên là một nối kết chính của Thyroxin gắn kết Globulin. Thêm vào đó T4 được gắn chặt với tiền Albumin gắn kết Protein và Albumin. Thyroxin gắn kết Globulin là một túi vận chuyển chính chiếm khoảng 80% hocmôn tuyến giáp ngoại biên ở vòng tuấn hoàn trong khi có thai và những vị trí lâm sàng khác với mức tăng Estrogen, mức Thyroxin gắn kết Globulin cũng tăng cao hơn của T4 ngoại biên như  tình trạng này là bình giáp, tuy nhiên bởi vì mức FT4 thì không rõ ràng. Hầu hết T3 & T4 thì bị gắn chặt với sự tồn tại của Thyroxin tự do dưới 1%. Hình thức gắn kết này của hocmôn tuyến giáp thì không thể đi qua được nơi ở ngoại bào, hình thức tự do là cầu nối vào trong mô ngoại bào ảnh hưởng đến hoạt động chuyển hóa chính. T3 đặc biệt quan trọng, quá trình T3, T4 tách từ sự gắn kết Protein và những cầu nối mô ngoại bào cũng thường xuyên cho phép kiểm soát hoạt động chuyển hóa. Hầu hết T3 ngoại bào được phân chia từ T4 bởi sự  khử  Iod phần lớn diễn ra trong Plasma và gan. Các quá trình khử Iod khác được phát hiện ở hệ thần kinh trung ương đặc biệt và tuyến yên và não. Sự chuyển T4 & T3 có thể có nhiều dấu hiệu lâm sàng như là Overwheming Sepsis và malnutrition điều trị các khối u Steroid có thể dẫn đến rối loạn chức năng suy giáp. Thời gian bán hủy của 8-12 giờ và mức T3 tự do thì không xuất hiện ngay lập tức từ tuần hoàn, ở người lớn thời gian bán hủy của T4 khoảng 7 ngày bởi vì sự ảnh hưởng và dấu hiệu gắn kết của Protein vận chuyển. Tuy nhiên hocmôn giáp thường thì thời gian trở lại tuần hoàn chậm, cơ thể thường là trở lại 7-10 ngày trung cấp T4 có giá trị cho chuyển hóa ngoại biên

 

Giới thiệu về bacsivietthanh

Bác sỹ phẫu thuật - Giảng viên y khoa
Bài này đã được đăng trong Tuyến giáp. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 phản hồi cho Tuyến giáp: chức năng sinh lý

  1. This is a really good read for me, thank you!

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *